Thứ Ba, 15 tháng 5, 2007

Các dòng ROCK qua các chặng đường thời gian Phan2

tiep theo

Phần 5 : DEATH METAL – BLACK METAL





Từ Thrash Metal, một dòng nhạc metal cực kỳ ác liệt khác từ trước đến giờ được sinh ra đời: DEATH METAL. Những ban nhạc đánh dấu sự xuất hiện đầu tiên của thể loại này là HELLHAMMER với đĩa "Apocalyptic Raids 1990 A.D.", DEATH với "Scream Bloody Gore" và THE POSSESED trong đĩa "Seven Churches" năm 85 mà sự thành công về thương mại của họ chưa hề được bàn đến. Tiếng ghi-ta nặng nề như dây đàn bị chùng xuống hết mức, nhịp điệu thay đổi từ tốc độ nhanh như sắp gây ra tai nạn trên đường xa lộ cho đến chậm chạp như răng ai nghiến khi giận dữ nhưng không dừng hẳn lại được, tiếng trống với 2 bàn đạp là căn bản, còn ca sĩ thì đổi giọng lanh lảnh đến như muốn làm thủng màng nhĩ người nghe sang giọng gầm gừ như không thoát ra khỏi yết hầu, tất cả chỉ có thể nhận thức bằng trí óc thôi! Đĩa "Welcome to Hell" của ban nhạc VENOM đã cho thấy sự trỗi dậy của Death Metal rất là tinh tế mà các ban nhạc khác chỉ còn một nhiệm vụ là đoan chắc điều này một lần nữa. CELTIC FROST bắt đầu nối tiếp sự nghiệp Death metal qua những màn trình diễn của họ sau đó, nhưng tiếc thay, chính vào lúc này, các ban nhạc metal khác lại chuyển hướng sang [Ii]Metalcore nên Death Metal bị lung lay tận gốc rễ.

Sau đó các ban nhạc SEPULTURA, OBITUARY và MORBID ANGEL đã cố gắng khai quật lại nấm mồ của Death Metal. "Beneath The Remains" của Sepultura và "Slowly We Rot" của Obituary đã vực dậy được sự yêu thích của các fan và kéo lên được bức màn Death Metal lên đến đỉnh sân khấu thành một dòng nhạc metal mạnh mẽ, đẩy mạnh phong trào cho các ban nhạc mới xuất hiện cũng như thổi một khí lực mới vào các ban nhạc như MALEVOLENT CREATION, CANNIBAL CORPSE, FUDGE TUNNEL và các ban cải cách (Progressive) khác như BELIEVER, PESTILENCE, ATHEIST và CYNIC. Đặc biệt cho những ai thích dòng nhạc jazz cũng có thể tìm thấy cảm hứng lạ lùng của jazz-death metal qua 3 ban nhạc vừa kể sau. Phải nói rằng, thể loại Death Metal sống mạnh nhất tại Thụy Điển, nơi mà ban nhạc ENTOMBED chứng tỏ được truyền thống của dòng nhạc và gợi hứng cho những ban nhạc theo sau khác như là DISMEMBER, EDGE OF SANITY và HYPOCRISY. Tuy nhiên, Death Metal vẫn tự đình trệ trong việc sử dụng lại các bài bản với khuôn phép như đã học thuộc lòng. Trái ngược với sự thành công vững chắc của MORBID ANGEL hoặc là DEICIDE cũng như song song với việc thường xuyên cải tiến kỹ thuật của DEATH trong các đĩa "Human", "Individual Thought Patterns" và "Symbolic", những ban nhạc mới lại dậm chân tại chỗ và thay vì sửa sai, đổi mới, họ đã giúp cho việc dựng lại tấm bia trước mồ chôn Death Metal!

Trong những năm cuối thời 80, Death Metal có một biến dạng cực đoan khác là GRINDCORE mà nó cũng muốn tách ra khỏi nguồn và tự lập. Không ngần ngại mà cho rằng NAPALM DEATH là đại diện tiêu biểu qua những đĩa như "Scum", "Harmony Corruption" và "Utopia Banished" với một âm thanh kể như không còn yếu tố nào gọi là có hoà âm hay có giai điệu nào cả. Thể loại này xem như là biên kỳ tuyệt đối của Heavy Metal, bởi vì nó phá vỡ hoàn toàn các kết cấu âm nhạc để dựng lên một loại mới mà hiếm ai cũng có thể gọi đó là nhạc được! Chính vì đặc điểm này mà Grindcore chỉ chợt loé sáng như những ban nhạc SCORN, các ban nhạc khác như CARCASS, GODFLESH, TREPONEM PAL hoặc PITHSHIFTER đã dần chuyển sang hướng khác tương đối "vào quỹ đạo" hơn.

Trong khi đó, đầu những năm 90 những ban nhạc như TIAMAT, THERION, SENTENCED và CEMETARY hoàn toàn loại bỏ âm thanh Death Metal và truy tầm nhiều tính chất khác như Progressive, Doom và Classic trong các sáng tác của họ. Điều này gây ảnh hưởng đến các ban nhạc khác trong việc sáng tạo một dòng nhạc Death Metal vì nhiều khuynh hướng khác nhau và phức tạp trong việc nhận dạng thể loại này. CARCASS và đĩa "Heartwork" năm 94 của họ đã lót đường cho một luồng gió mới thổi vào cái nôi của phong trào NWOSDM (New Wave Of Swedish Death Metal). AT THE GATES, DARK TRANQUILLITY và IN FLAMES khởi xướng theo với sự kết hợp sức mạnh của Death Metal và giọng hát của ca sĩ cùng với một giai điệu du dương hơn. Có ý kiến cho rằng, tính chất mới của thể loại này giống như khi ta tưởng tượng đang nghe IRON MAIDEN chơi Death Metal với một sự mê đắm dữ dội, kết quả của việc sáng tác hài lòng vừa ý nhất, sự biểu diễn tài tình của các nhạc sĩ và nhất là cảm giác tuyệt vời của giai điệu nhạc làm rung động ta hơn.



Tuy là một nhánh của Death Metal, BLACK METAL đứng hẳn một bên góc khác và được xem là một loại nhạc ồn ào chỉ được phát hành thật ít. "Black" là màu đen theo nghĩa hẹp, và rộng hơn là hình ảnh của Satan mà trước kia, vào những năm đầu thời 80 ai cũng biết đến qua ban nhạc BATHORY. Mặc dù các ban như SLAYER và VENOM được mệnh danh là Black Metal trong thời bởi vì những hình ảnh ma quái của quỷ Satan, tính chất trung thực nhất để diễn tả Black Metal chỉ qua những bài thành công nhất của BATHORY. Đó là những tiếng than thở như vang rền từ lòng đất làm rối bời tai người nghe vì có cảm giác như tiếng ấy không thoát lên khỏi mặt đất được, đó là những nhịp phách của trống đánh như trời gầm, tiếng đàn điện đôi khi vô cùng "ngược tông" (distorted) nhưng vẫn giữ âm lượng vừa phải, tuyệt đối không có giai điệu gì, chỉ bàng bạc một hình tượng Satan huyền ảo và ngoại giáo. Ngay sau khi luồng sóng âm thanh của Black Metal bắt đầu được truyền đi, nước Na Uy đã cung cấp ngay những ban nhạc theo chủ nghĩa hư vô này qua các ban nhạc IMMORTAL, DARKTHRONE, BURZUM nối gót MAYHEM là một ban nhạc không thể nào không được nhớ đến chất hoang dã đến tận cùng của họ. (Phần nói về Inner Circle được loại bỏ.)

Làn sóng thứ nhì của Black Metal vẫn còn hiện hữu đến ngày nay và trở thành phổ biến trong thời kỳ 90 là các ban nhạc như CRADLE OF FILTH, EMPEROR, SATYRICON, DIMMU BORGIR và DARK FUNERAL. Họ đã mang thêm vào các sáng tác nhiều yếu tố tác động mới qua việc tăng thêm tiếng đàn keyboard tạo vẻ huyền bí và nhạc dân ca của xứ Scandinavian. Mặc dù bắt đầu từ đây họ đã rời bỏ tính chất phạm tội của những ban nhạc tiền phong trong quá khứ, âm thanh Black Metal vẫn hoang dại, không nhượng bộ trước một phản công nào và chịu hưởng một chút lợi nhuận trên thương trường mặc dù đã hiên ngang vượt qua biên giới của trào lưu cũ mang lại một phong cách mới cho Black Metal. Trong khi đó, những thần tượng xưa kia như SAMAEL và BATHORY đã thoát hẳn ra bản rập khuôn cũ từ lâu. Samael chẳng hạn, được xem như là một ban nhạc Black Metal chính thống đã giới thiệu trong đĩa "Passage" những bài nhạc có tiết tấu chậm hơn xưa nhưng lời nhạc "đen tối" hơn, tiếng trống, tiếng đàn kể cả giọng hát đều được đắm mình trong một dàn hoà âm điện tử vĩ đại.

PHẦN 6 : DOOM METAL – GOTHIC METAL


Death Metal phát sinh từ Thrash Metal với lối chơi càng nhanh càng tốt tạo thành một thời trang cho những ban nhạc "nặng", nhưng cũng có nhiều nhạc sĩ đã quyết định chơi ngược lại, nghĩa là càng chậm càng thích. Ngừơi ta đã bắt đầu nhận thấy điều này qua WITCHFINDER GENERAL, TROUBLE và SAINT VITUS. Các ban này nằm trong danh sách những ban nhạc hay nhất từ thời kỳ của BLACK SABBATH đã tiến dần sang một tính cách mới của metal qua những đoạn riff mạnh bạo và thỉnh thoảng chêm vào những khúc nhạc buồn thê lương.



Sau đó, có nhiều ban nhạc tiếp tục con đường vừa mới khai thông của họ và làm cho khung cảnh trầm buồn không nhìn thấy bầu trời ấy thêm một độ cao. ANGEL WITCH chẳng hạn, tự xếp mình vào hàng ngũ và đã đi đầu trong việc mang hết những làn hơi của Doom Metal vào các sáng tác của mình cộng với chất giọng rất phù hợp với thể loại này là opera. Điển hình là CANDELMASS của Thuỵ Điển qua đĩa "Epicus Doomicus Metallicus". PENTAGRAM cũng còn đấy, xuất hiện trở lại cùng lúc với OBSESSED và DREAM DEATH (sau này đổi thành PENANCE). Doom Metal tuy thế cũng chưa thể hiện được một sự diễn đạt như ý cho đến khi PARADISE LOST và CATHEDRAL xuất hiện (thành viên cũ của các ban nhạc chuyên chơi death, thrash và punk). Với đĩa "Gothic", Paradise Lost đã kết hợp âm thanh keyboard trải dài làm nền với tiếng ghi-ta đánh vụt nhanh rồi chìm hẳn trong khi giọng hát vẫn mang âm hưởng của Death Metal và vì thế được gọi là "doom-death". Ban nhạc Cathedral làm sống lại hình ảnh của một Black Sabbath tân thời sau khi cũng thử nghiệm với chất doom-death vừa kể và còn tăng thêm nỗi hãi hùng qua tiếng gào thét đến chói tai. Với sự thành công của hai ban nhạc này, nhiều ban nhạc mới sinh ra đời và Doom Metal trở nên chìm lắng trong một sắc thái vô cùng đa dạng: dàn nhạc với nhiều nhạc cụ khác nhau, giọng hát soprano, âm thanh "nặng nề" của Death Metal, ca sĩ nữ là chính, nhưng toàn cảnh vẫn không mất đi sắc thái chậm rãi, kỳ dị và tràn đầy xúc cảm. Trong thế giới metal dần dần xuất hiện nhiều ban nhạc muôn hình muôn vẻ, kiểu Death là những ban nhạc như SORROW, CREMATORY và OPTHALAMIA * qua đĩa đầu tay "Journey in Darkness"; kiểu Sabbath là COUNT RAVEN, SLEEP, INTERNAL VOID và IRON MAN; kiểu chính thống phải kể đến là SOLITUDE AETURNUS và MEMENTO MORI; theo lối Louisiana ** và Crowbar là EYEHATEGOD; còn MY DYING BRIDE và ANATHEMA thuộc phái tiến hóa.

Gần đây, Doom Metal càng ngày càng mang đậm chất gothic và âm thanh nghe như bao trùm đầy ắp bầu khí quyển mà giọng nữ soprano nay lại song hoà với giọng nam trầm lắng hầu như trở thành chủ lực. THEATRE OF TRAGEDY và TRISTANIA có lẽ đã được thành lập để đại diện cho tính chất mới này. Dĩ nhiên điều khẳng định này không hạn chế cỉ bởi 2 ban nhạc này mà bỏ quên những ban nhạc mới nhập vào dòng cũng như nhiều yếu tố khác cho thấy sự phân biệt tinh vi của Doom Metal. TIAMAT và THE 3rd AND THE MORTAL đã sử dụng đàn thùng nhiều hơn, đôi khi gợi nhớ lại hình ảnh của Pink Floyd khi trước. Theatre of Tragedy còn chuyển hết toàn bộ các nhạc cụ sang thành một dàn điện tử bắt đầu từ đĩa “Aegis” cho thấy sự kết hợp chặt chẽ giữa gothic và metal một cách tài tình.

Trong khi đó, trở lại thời 80 và đứng ngoài sân khấu Doom Metal là Glenn Danzig (sau khi THE MISFITS tan vỡ đã thành lập ban SAMHAIN năm 83). Âm thanh của Samhain còn nặng hơn, gây "sốc" nhiều hơn The Misfits khi trước. Nhưng sau khi thu âm đĩa "November-Coming-Fire", Danzig lại giải tán Samhain và lập ra ban nhạc mang tên mình là DANZIG. Đĩa nhạc cùng tên anh "Danzig" diễn tả một trạng thái bất đồng giữa giai điệu và cường tráng, tất cả như xoáy vào tâm hồn sâu sắc của anh. Phong cách duy nhất vô song này được thể hiện trong suốt 4 đĩa đáng chú ý nhất của anh, gợi cho thính giả nhớ lại thời kỳ của Black Sabbath cùng với hình ảnh ma quái của Satan và chỉ được chuyển hướng sau khi thể loại Industrial Metal xuất hiện sau này. Song song với những ban nhạc vừa kể trên, LOUDNESS (được biết đến tại những nơi khác ngoài Nhật từ năm 85 với đĩa "Thunder in the East") và KING DIAMOND (ca sĩ King Diamond trước là thành viên trong ban Mercyful Fate) cũng giữ được âm thanh nguyên thủy của heavy metal suốt thập niên 80. Sau đó, King Diamond dần dà từ bỏ Speed Metal cũng như đổi giọng hát giữa những đoạn trầm như đang lẩm bẩm một mình với tiếng kêu thét vang kinh dị. Trong khi đó, ban nhạc Loudness của xứ Phù tang vẫn phát hành những đĩa đầy sắc thái mạnh mẽ như "Soldier of Fortune" (tên đĩa này trùng hợp với nhiều đĩa của các ban nhạc khác như Thin Lizzy, Deep Purple, Eric Burdon). Các ban như GWAR (God What an Awful Racket), HAUNTED GARAGE, GREEN JELLY hầu như chỉ gây ấn tượng qua phần trình diễn thời trang, sân khấu và phim ảnh nhiều hơn là âm nhạc. Ban nhạc W.A.S.P. được lắm kẻ ưa nhiều người ghét cũng nằm trong danh sách này.




Chú thích thêm:
* Tác giả viết là Winter nhưng đó là tay trống của ban nhạc Edge of Sanity. Ban nhạc Opthalamia là một ban phụ được thành lập bởi ca sĩ Legion của Marduk, tay ghi-ta của Vondur là anh chàng It, tay bass Night trong ban Swordmaster và Winter như đã nói.

** Chính ra là The Louisiana First Mass Choir với đĩa duy nhất là "I belong to God" và những giọng ca mạnh, trữ tình tha thiết của Tramaine Hawkins, Ruby Terry, Edwin Hawkins và Lynette Hawkins-Stephens

*** Đĩa này đặc biệt ca tụng các vị nữ thần đẹp tuyệt trần như Venus, Siren, Poppapea, Lorelei...

Phần 7 : GUITAR VIRTUOSO và PROGRESSIVE METAL

Làng nhạc Heavy Metal ngày càng đa dạng hóa, nhiều nhạc sĩ đã quyết định tự đưa tài năng của mình lên cao hoặc sang một bình diện khác. Một trong những nhạc sĩ này phải đề cập đến giới ghi-ta bậc thầy. Đầu tiên phải nhắc đến JOE SATRIANI và học trò của ông là STEVE VAI (1960) và YNGWIE MALMSTEEN (1963). Joe Satriani được mệnh danh là "nhạc sĩ tây ban cầm của những nhạc sĩ tây ban cầm khác" (The guitarist's guitarist) qua những tuyệt phẩm như "Surfing With The Alien" và "The Extremist". Steve Vai (chuyên chơi đàn 6 dây) cũng có một sự nghiệp vinh quang như khi đã từng trình diễn chung với FRANK ZAPPA (1940-1993) và WHITESNAKE (1977). (Vai đi lưu diễn với Zappa, được ưu ái tặng cho danh hiệu "Stunt Guitarist" (Nhạc sĩ đàn tây ban cầm kỳ tài) và "Littel Italian Virtuoso" (Nghệ sĩ bậc thầy bé bỏng của Ý Đại Lợi. Nên tìm nghe: "Tinsel Town Rebellion" hoặc "You Are What You Is")

Yngwie Malmsteen được nổi danh từ những sáng tác có âm điệu Heavy Metal kết hợp với dàn nhạc giao hưởng. Tay anh khéo léo lướt trên những dây đàn như không hề đụng qua. (Malmsteen còn nổi tiếng qua những vụ chỉ trích về tính tự cao và tinh thần hướng ngoại.) Trong khi đó, tay trống HERMAN RAREBELL của ban nhạc Scorpions, tay ghi-ta STEVE MORSE (1954, trước kia chơi trong các ban Kansas, The Dixie Dregs và Deep Purple), Richie Kotzen (Poison, Mr.Big) cũng như JASON BECKER (thành lập ban Cacophony) đã tiếp tục tự tạo tên tuổi riêng qua những đĩa đơn và làm việc chung với các ban nhạc hoặc nhạc sĩ khác trong một thời gian ngắn. Sau nhiều năm, tình trạng nổi bật của việc sử dụng các nhạc khí đa dạng phát triển dần dần, tuy thế, chỉ có một số ít nhạc sĩ thực sự thành công về thương mại và đạt được phương tiện truyền thông rộng rãi.



Trong thời kỳ cực thịnh của Thrash và Pop Metal và trong khi dòng Instrumental đang cố gắng đẩy phần kỹ thuật tân tiến tới trước, 2 ban nhạc sau đây đã góp phần cho Progressive Metal vươn tới trước: QUEENSRYCHE và FATES WARNING. Suốt thập niên 80, RUSH ngày càng chơi nhẹ hơn, Progresssive Rock đã mất nhiều sức thu hút từ cuối thời 70, vì thế Progressive Metal cũng trở nên yếu kém. Queensryche bị ảnh hưởng nên đĩa " The Warning" và "Rage for Order" không thành công hoàn toàn. Nhưng sau đó, đĩa vàng "Operation:Mindcrime" đã củng cố chắc chắn cho tiếng tăm của họ. Đĩa "Empire" đạt được một đĩa bạch kim với số bán ra hơn 1 triệu nhờ vào bản nhạc danh tiếng "Silent Lucidity". Sáng tác này thể hiện rõ thể loại Heavy Metal được viết bởi tay ghi-ta CHRIS DeGARMO kỳ danh. Trong khi đó, Fates Warning không sôi nổi hơn nhưng đã chứng tỏ thực lực vững vàng trong đĩa "Awaken the Guardian" và "Perfect Symmetry". Các ban nhạc khác như CRIMSON GLORY với âm điệu Progressive Metal êm dịu và KING's X với dàn đồng ca cùng những cú riff nặng (sau này Galatic Cowboys còn "đấm" mạnh hơn) nhập hẳn vào dòng nhạc đang mang tính chất khá phức tạp này, nhưng cũng vì thế mà Progressive Metal luôn được phục hồi cho đến năm cao trào 1983 qua đĩa xuất sắt của Rush là "Counterparts" mà khuynh hướng của họ ngày càng chơi nặng nề hơn…

Phần 8 : HARDCORE /METALCORE – INDUSTRIAL METAL





Trong khi QUEENSRYCHE, FATES WARNING và RUSH đang tạo ra một thể loại nhạc phức tạp qua những lời ca chứa đựng một sự hiểu biết rộng từ triết lý đến khoa học giả tưởng, nhiều ban nhạc mới đã trình bày một thể loại khác gọi là Hardcore, đứa con của Heavy Metal và Punk Rock. Hardcore vì thế tương tự như Punk Rock vì dễ hiểu lời hát tuy vẫn đậm màu sắc chính trị, nền âm thanh là Heavy Metal, phổ biến nhất ở 2 thành phố Washington DC và New York City. Trong đó đáng kể đến trước tiên là BAD BRAINS, ban nhạc chơi loại Hardcore tinh vi nhất với một hỗn hợp của Jazz, Reggae, Metal, Punk, điển hình qua các đĩa "I against I" và "Rock For Light". Ban nhạc BLACK FLAG muốn như nổi lửa khắp thế giới với những câu lập đi lập lại như "I've heard it all before, don't wanna hear it again" (tạm dịch như là "Nghe rồi, khổ lắm, nói mãi"). Giọng hát của Henry Rollin gào thét thất thường, tiếng đàn của Greg Ginn nghe rất nghịch tai, tất cả được gói ghém lại trong đĩa "Damaged" rất thành công trong năm 1981. Đồng lúc đó, ban nhạc DEAD KENEDYS là đại diện cho quan điểm chính trị rõ ràng nhất qua các tác phẩm mà Jello Biafra là bộ óc chính. MINOR THREAT đứng hẳn về phía chống chủ nghĩa tuân thủ pháp luật qua những màn trình diển rất sôi nổi của họ. Đóng góp cho sân khấu Hardcore trong triều đại của Pop Metal còn phải kể đến nhiều ban nhạc khác nữa như là THE CIRCLE JERKS, D.O.A., HUSKER DU, MURPHY´S LAW ....

Trong khi BLACK FLAG và BAD BRAINS là 2 ban nhạc luôn đặt các ty cảnh sát khắp nước Mỹ trong một tình trạng báo động, nhiều ban khác đã chuyển hướng từ Hardcore tinh khiết sang Metalcore mà phần cơ bản vẫn là kết hợp với Heavy Metal. DISCHARGE là ban nhạc đầu tiên khởi xướng phong trào này qua bài "Hear Nothing, See Nothing, Say nothing" trong đĩa "Never Again" năm 84. Sự thành công này dẫn đầu cho hàng loạt các ban nhạc nổi danh khác trong suốt thời kỳ 80 sau đó như DIRTY ROTTEN IMBECILES (viết tắt là D.I.R. chuyên kết hợp hardcore với thrash) đã cho ra đời những đĩa tiêu biểu như "Crossover" và "Definition", CORROSION OF CONFORMITY qua đĩa "Eye for an Eye" và "Animosity" **. Hai ban nhạc này được đánh giá có công lao nhất lôi kéo sự chú ý của giới hâm mộ Hardcore/Heavy Metal nhiều nhất và dọn mâm cỗ sang trọng ngon lành cho ban nhạc theo sau là STORMTROOPERS OF DEATH (S.O.D.). Đĩa "Speak English Or Die" có lẽ là một đĩa với những lời mỉa mai, châm biếm kiểu "khôi hài đen" nhất trong thể loại Crossover này! Ca sĩ Billy Milano cùng các thành viên khác trong ban này (xuất thân từ các ban nhạc Antrax và Nuclear Assault) đã được mệnh danh là ban nhạc Metalcore xuất sắt nhất. Sự mong mỏi được trông thấy ngày tái hợp của ban nhạc đã được thỏa mãn qua đĩa "Bigger Than The Devil" năm 1999. Thể loại Crossover này hiện nay không gặt hái được sự thành công đáng kể như trong những năm 80 và Hardcore chỉ còn tìm thấy ẩn hiện đâu đó qua những ban nhạc như FUGAZI (87), THE JESUS LIZARD (87), MADBALL (94) và BIOHAZARD (88).

Khoảng 5 năm sau chót của thời 80, một thể loại Heavy Metal khác bắt đầu trỗi dậy bước vào thương trường. Đó là Industrial Metal với đặc trưng nổi bật nhất là việc sử dụng các nhạc cụ điện tử như "drum machines" (trống máy) và "synthesizers" (dàn máy tạo ra được nhiều âm thanh khác nhau). Người ta nhớ lại sáng kiến này đã do ban nhạc SWANS *** và KILLING JOE trình làng. Nhưng Industrial Metal chỉ thực sự phát triển nhanh chóng nhờ những phát pháo của các ban như SKINNY PUPPY, CONTROLLED BLEEDING, COP SHOOT COP và GODFLESH, tuy rằng nhìn chung, phong trào này còn nằm trong tầm nhìn xa xăm của mọi người. Đột phát cuối cùng là do ban MINISTRY của Alain Jourgensen (người Cuba) và những đĩa cực kỳ gây ấn tượng mạnh là "Twitch", "The Mind Is A Terrible Thing To Taste" và "Psalm 69: The Way to Succeed & The Way to Suck Eggs". Đoạn video của bài nhạc "Jesus Built My Hotrod" được ưa chuộng nhất, còn những bài như "Just One Fix" đã giúp cho việc duy trì sự lớn mạnh của Industrial Metal.


Chú thích thêm

** Sự thực là yếu tố Punk còn phảng phất rất nhiều qua lời ca mang nét chính trị, tuy rằng không còn thẳng thừng nữa mà tinh tế hơn.

*** Lúc đó, Swans đã làm mọi người bối rối, và họ đã nhận được đủ thứ danh hiệu cho lối chơi này, nào là Experimental rock, Noise Rock, Dark Ambient...

Ở đây, tác giả phân biệt giữa Hardcore và Metalcore như 2 thể loại khác nhau, nhưng nhìn chung vẫn là một, đó là HARDCORE PUNK, một thể hình về âm nhạc và tư tưởng giống hệt PUNK. Sự khác biệt đôi chút phải nói là „quá khích“ hơn, từ sự diễn tả qua hình thức đến nội dung, tất cả như đã được đưa lên chót vót đỉnh nhọn của một ngọn núi, không còn khả năng nào tiến thêm nữa, họa may là „bay” lên! Các ban nhạc này vì thế mà không sống dai? Tất cả đều giải tán 2, 3 năm sau đó. Hardcore/Metalcore dừng chân lại vĩnh viễn trên đỉnh núi hoặc đã biến mất?

Industrial Metal và Hardcore/Metalcore cùng gặp nhau trên một đường đi. Các ban nhạc có chung một suy nghĩ điên cuồng giận dữ về xã hội đương thời và bày tỏ chúng qua một bức tường âm thanh dày đặc những tiếng ghit-ta méo mó, sắt cạnh, lập đi lập lại không ngừng... Trong số đó, chỉ có Nine Inch Nails (89) tỏ một thái độ “mềm” hơn một chút với những giai điệu nghe “mỏng” hơn và cũng nhờ thế mà thể loại Industrial Metal đến gần với mọi người hơn, nhất là qua đĩa “Pretty Hate Machine”. Sự việc tiếp cận được với quần chúng đó đã mang thể loại Industrial Metal này vào dòng nhạc Alternative Metal chính mà không đánh mất nguồn gốc của mình là Hardcore Punk.

Phần 9 : ALTERNATIVE METAL – NIRVANA's GRUNGE – PROGRESSIVE METAL


Gần cuối thập niên 80, Metal nói chung lại một lần nữa trở thành một loại nhạc không có sức sáng tạo nào mới. Những ban nhạc Pop và Thrash Metal trình bày quá giống nhau và chỉ thấy còn vài ban nhạc cũ. Trong làng nhạc Rock/Heavy, MÖTLEY CRÜE, GUNS N' ROSES và METALICA vẫn có ảnh hưởng mạnh; DEF LEPPARD và BON JOVI lại thiếu vắng trên sân khấu. Thể loại Thrash xuống dốc nhanh chóng vì các ban nhạc chỉ lập lại những gì đã có. SLAYER, MEGADETH và METALLICA đều giảm “tốc độ” và chơi nhẹ nhàng hơn trong nhiều mức độ khác nhau. Nhưng cũng thật là bất ngờ khi đĩa "Black" của METALLICA lại giữ vững vị trí rất lâu trong các bảng xắp hạng. DEATH và DOOM METAL đã hoàn toàn hồi sinh, nhưng SPEED và GLAM cần gấp cứu tinh.

Không có ai cứu vớt Pop Metal, nhưng Thrash Metal đã được cứu thoát nhờ PANTERA. Nhưng việc cách mạng hoá Thrash Metal bởi Pantera (nguyên thủy là một ban nhạc Glam Metal) thật ra đầu tiên là công khai thác và sáng tạo của EXHORDER * (86), một ban nhạc đã không được đánh giá đúng mức. Chàng ca sĩ Phil Anselmo đã khẳng định rằng nhịp nhanh (Speed) không còn là một yếu tố chính nữa, mà là một "power groove" (con đường mòn của năng lực). Những đoạn riff đã trở nên "nặng" thất thường mà không cần phải như sấm rền hoặc âm điệu phải cực kỳ thấp; tiếng đàn không cần như phải vặn vẹo méo mó tai người nghe như Death Metal (distorted guitars); nhịp điệu được giữ mức của Heavy Metal đều đều và giọng hát là một sư hòa hợp giữa kiểu gầm gừ trong cổ họng và la thét lên lanh lảnh. Tất cả là một hướng mới của Thrash Metal của thập niên 90! Trong khi đó, phải nói rằng Pop Metal lại còn phải hứng chịu một số mệnh đau buồn khác: chết dưới tay Alternative Metal
.



Nguồn gốc của Alternative Metal bắt đầu từ ban nhạc CRAZY HORSE do Neil Young bảo trợ và ngay cả trước đó là từ THE VENTURES (59) và THE VELVET UNDERGROUND (64). Nhưng phải kể đến những ban nhạc thực sự gây phong trào là FAITH NO MORE (82), LIVING COLOUR (84) và JANE's ADDICTION (84). Living Colour có một lối chơi lập dị qua sự kết hợp mọi thứ vào nhau: Heavy Metal, Jazz, Blues, Rap, Funk, Hardcore và cả âm nhạc của người da đen **. Jane's Addiction ảnh hưởng những thể điệu trong thập niên 70 và phát triển thành một lối trình bày riêng của mình qua tiếng hát như kêu ré khiếp đảm của anh chàng ca sĩ Perry Farrell. Còn Faith No More thì pha trộn tất cả các thể loại nhạc vào nhau thể hiện qua giọng gào thét rùng rợn của Mike Patton trong các đĩa thành công của họ (thí dụ như "The Real Thing"). Sau đó, các ban nhạc SCATTERBRAIN, Mr. BUNGLE) và MINDFUNK đã phổ biến lối chơi này rộng rãi hơn. Họ đã thành công vượt mức trước khi Alternative Metal xuất hiện và đã che khuất sự rung chuyển của các ban nhạc khác như là SONIC YOUTH chơi theo thể loại Hardcore, FISHBONE với cường điệu mạnh bạo, MELVINS, TAD, MUDHONEY (đều xuất thân từ Seattle) và THERAPY? *** (89, Ireland). Dĩ nhiên còn phải kể đến MOTHER LOVE BONE nhưng ban nhạc này chưa bao giờ nổi tiếng thực sự mặc dù nhạc của họ rất xuất sắc (album duy nhất là "Apple").

Chuyện gì xảy đến sau đó? Đó là NIRVANA đã làm cho thế giới như nổ tung lên qua bài "Smells Like Teen Spirit"! Sự kết hợp hài hoà giữa giọng hát với giai điệu thật gần gũi với mọi người và cảm giác tội lỗi về thế giới của Grunge đã nhanh chóng thu hút được một số đông người hâm mộ đang ao ước được nghe một loại nhạc gì khác và mới mẻ. Lời nhạc chứa đầy sự thất vọng chán chường của Kurt Cobain đã thu hút hàng triệu tín đồ thanh niên nam nữ của "thế hệ X" giống như là Glam Metal chưa từng có ai nghe qua! Sự hào nhoáng và dục tính hầu như không thực tế chút nào, hay ít ra người ra đã từng nghĩ như thế! Cho đến khi Kurt Cobain tự sát năm 1994, những anh chàng nhạc sĩ của Nirvana là con cưng của MTV và đã thúc đẩy được phong trào tại Seattle, làm cho Heavy Metal ở Los Angeles có phần chìm lắng xuống. Phong trào Grunge bùng nổ thành công dữ dội trên thương trường đến nỗi những ban nhạc Alternative Metal phải tìm cách làm cho tình thế đi đến độ bão hòa, no nê qua sự tràn ngập thị trường. Một số ít ban nhạc giữ được phong cách nguyên thủy của họ, thí dụ như THE BLACK CROWES và FOUR HORSEMENT chơi lại kiểu Rock thời 60; PRIDE & GLORY với âm thanh ảnh hưởng Southern Rock (heavy blues-rock của cuối thập niên 60); LOVE/HATE, ALMIGHTY và WARRIOR SOUL (mang đậm màu sắc chính trị) đều trung thành tuyệt đối với Heavy Metal.

Sau sự bùng nổ của Nirvana, nhiều ban nhạc khác đã nhanh chóng đạt đến tuyệt đỉnh danh vọng. SOUNDGARDEN (84) giữ vững nền nhạc đã được thử thách và trung thực của mình; ALICE IN CHAINS (87) trình bày một phong cách tối tăm và ủ rũ hơn; PEARL JAM (90) có lẽ là một trong những ban nhạc đáng kể nhất trong dòng Alternative đã hiến tặng người nghe những sáng tác và giai điệu của họ qua tiếng đàn, giọng ca trầm của EDDIE VEDDER cùng những tâm tình qua tuyệt phẩm đầu tay "Ten". Alternative Metal lớn mạnh cũng nhờ MTV tiếp sức đưa các ban nhạc này lên thành những ngôi sao sáng chói, trong khi Heavy Metal chỉ nhận được sự ủng hộ của chương trình phát hình số 1 này một vài năm, sau đó bị bỏ rơi mà không có lý do chinh dang

Sau này, thiết tưởng cũng nên nghe qua những ban nhạc như STONE TEMPLE PILOTS (bị công kích là "chôm bài" của Pearl Jam), SOUL ASYLUM chuyển hướng từ Punk sang Alternative, MY SISTER'S MACHINE sống chỉ 3 năm với 3 albums, và SAIGON KICK, BLIND MELON, BIG CHIEF, CANDLEBOS, DINOSAUR Jr., MOIST, SPONGE đều thành công ở nhiều mức độ và địa phận khác nhau.

Trong khi đó, Progressive Metal lại đạt đến tột đỉnh danh vọng trên thị trường. Đĩa "Images and Words" của DREAM THEATER là một sự tập hợp khá phức tạp của loại nhạc Progressive đã được bán rất chạy, qua đó quảng bá được Progressive Metal rộng rãi khắp nơi. Đó là một sự kiện rất hiếm trước đây. Những đĩa như "Awake" và "A Change Of Seasons" của các nhạc sĩ ưu tú trong ban nhạc này đã nới rộng chân trời nghệ thuật của họ xa hơn nữa cũng như đã củng cố được danh tiếng của mình là một trong những ban nhạc Progressive Metal lừng danh nhất. Trong sự thành công của Dream Theater, nhiều ban nhạc khác đã bắt đầu thử nghiệm loại nhạc Heavy Metal mang đầy đặc điểm kỹ thuật này với một phong cách riêng gọi là Progressive Thrash như ban nhạc WATCHTOWER (86). Nằm trong danh sách các ban nhạc tiêu biểu xuất sắt này còn phải kể đến SHADOW GALLERY, DAMN THE MACHINE, AYREON, SYMPHONY X, SPASTIC INK và PAIN OF SALVATION, tất cả đã liên tục là những người dẫn đầu trong loại nhạc này. Cùng song hành với họ, nhiều ban nhạc khác lại còn có những phóng tác kỳ dị hơn về Progressive Thrash Metal như ban nhạc ANACRUSIS hoặc là Progressive kết hợp với Death Metal và Jazz được ẩn náu trong những bài của ATHEIST và CYNIC.



Ghi chú:

* Đĩa "Slaughter in the Vatican" của Exhorder phát hành năm 90 không được chào đón hồ hởi lắm, vì cái tựa đề và bao nhãn bên ngoài, nhưng đã lót đường cho Pantera tạo nên tuyệt phẩm "Cowboys From Hell" qua hướng nghệ thuật mới của dòng Thrash Metal.

** Tôi nghĩ tác giả ám chỉ dòng nhạc Black Gospel có xuất xứ từ những xúc cảm của người da đen từ những ngày phải sống trong sự nô lệ, áp bức. Thực ra điều này hơi thừa vì âm điệu của Black Gospel cũng bắt nguồn từ Jazz và Blues đã lược kê ra.

*** Ban nhạc này nhất định giữ dấu hỏi "?" vào tên để phân biệt với một ban khác trùng tên Therapy năm 1971.

Phần 10 : INDUSTRIAL METAL - FUNK METAL - STONER ROCK
Trong khi sự cường điệu về âm nhạc chung quanh thành phố Seattle vẫn tiếp tục phát triển, một nhạc sĩ mang tên Trent Reznor, bộ não của ban nhạc NINE INCH NAILS đã gây sự chú ý cao độ khi anh đưa thể loại Industrial Metal nổi bật lên qua những lời nhạc mang đầy tính căm hờn như trong những bài "Head Like A Hole", "Broken" và "Closer" cũng như qua phần trình diễn sôi nổi của ban nhạc trong Hội diễn âm nhạc Woodstock Festival lần thứ nhì. Reznor đã "sống" thực sự trong những năm này.

Đứng ngoài sự ủng hộ không kiên định của MTV và các phương tiện truyền thông khác nhưng được ghi nhớ mãi là một ban nhạc mang tên FEAR FACTORY (90). Họ đã sử dụng những âm thanh điện tử của Industrial Metal ăn khớp tuyệt vời với chất điệu mạnh mẽ của Death Metal tạo được một nguồn cảm hứng mênh mông hoang vắng mới cho Industrial Metal mà sau này được ủng hộ rất nhiều. Như thế là hạt giống của làn giai điệu mới cho các nhạc sĩ chuyên Industrial đã được gieo và gặt hái được kết quả đáng kể sau này.






Ngay giữa sân chơi của Alternative, 2 ban nhạc PRIMUS và UGLY KID JOE đã sáng rực không ngừng. Larry LaLonde trước chơi trong ban THE POSSESED (nay là thành viên của PRIMUS) có thể được cho rằng có lối chơi đàn lập dị nhất trong bảng vàng Alternative Metal. Giọng rên rỉ qua âm mũi của Les Claypool và lối đánh bass sôi nổi hấp dẫn của anh hoà với tiếng trống như vui buồn thất thường của Tim Alexander thường được xem như là một đội song tấu so tài với RUSH. Âm nhạc sở trường của họ không trội hẳn ra khỏi phong trào trong khi những bài nhạc thì kể như là không giống ai hết. Trong lúc ấy, UGLY KID JOE chỉ nếm thử 2 lần danh vọng rồi lại biến đi như một trái bom sau khi đã để lại một tiếng nổ lớn. Qua các đĩa như "As Ugly As They Wanna Be" và "America's Least Wanted" họ đã cho thế giới biết thế nào là Funk Metal một cách hùng hồn nhất. Thêm vào đó, trước và trong khi UGLY KID JOE nỗ lực trình làng, những ban nhạc ít nổi tiếng khác như là KING OF THE HILL, 24-7 SPYZ, INFECTIOUS GROOVES (ban nhạc thứ nhì của đội ngũ SUICIDAL TENDENCIES, cụ thể là ca sĩ Mike Muir và tay đánh bass Robert Trujillo) và White Trash (91) cũng đã dựng cho giàn sân chơi này một cột trụ vững chắc một cách âm thầm. Ban nhạc MORDRES cũng đã có công trong việc giới thiệu một thể điệu khá đặc biệt kết hợp giữa Thrash và Funk.





Thể loại này thật ra đã trưởng thành trong suốt thập niên 70 qua tiếng tăm của DEEP PURPLE và giọng ca của David Coverdale, nay lại càng hấp dẫn hơn nữa với sự xuất hiện của EXTREME (85) chuyên chơi thể loại Pop Metal. Ban nhạc THE RED HOT CHILI PEPPERS (83) kỳ cựu thì vẫn như chạy trơn tru trên con đường vinh quang, nhất là sau bài top hit "Under The Bridge" (trong đĩa Blood Sugar Sex Magik năm 91) được phát thanh trên khắp các làn sóng điện. Hiện nay họ đang là ngôi sao sáng chói mà người ta cho rằng không có ban nhạc Funk Metal nào qua mặt nổi. *

Có lẽ một nhánh phụ quan trọng nhất kết hợp với metal để nổi bật lên từ những mảnh vụn rời rạt của trào lưu âm nhạc mà làn sóng của Alternative Metal đã bỏ lại phía sau chính là Stoner Rock. Bị tước danh hiệu này từ ban đầu, sau này Stoner Rock đã dành lại được tên tuổi nhờ tài năng thực sự của MONSTER MAGNET và KYUSS trong năm 90. Thể loại này gợi cho ta hồi tưởng lại hình ảnh của SABBATH và nay không thể nào bị đoạt mất chỗ đứng trong làng nhạc Rock được nữa, vì Stoner Rock đã như thấm từ từ vào tĩnh mạch các rockfan qua những nốt nhạc thật thấp (tiếng bass nghe như là động đất), tiếng đàn dày đặc vặn vẹo, thiên hẳn về "tổ khúc nhỏ" (mini-suite) kiểu BLACK SABBATH và những đoạn riff mà Tony Iommi ** đã từng đạt đến. Tiếc rằng, nhiều nhạc sĩ của dòng này vẫn chơi "ngầm" suốt những năm 90 tuy rằng KYUSS được xếp hạng riêng hẳn ra như một giáo chủ qua những tác phẩm tuyệt hay của họ qua đĩa "Welcome To Sky Valley" và "...And The Circus Left Town" trước khi ban nhạc tan rã năm 1997.




Giữa những năm 90, vấn đề không những là Stoner Rock bị lãng quên mà Alternative Metal giống như bị tàn lụi. Sau cái chết của Kurt Cobain, NIRVANA cũng nhắm mắt, PEARL JAM không xuất hiện trình diễn nữa, ALICE IN CHAINS dần dần suy thoái vì sự nghiện ngập của ca sĩ Layne Staley ngày càng trầm trọng. Thế nhưng, cũng giống như thập niên 80, vòng “sinh tử” của âm nhạc không bao giờ ngừng quay hẳn. Nhiều ban nhạc khác đã bắt đầu bước vào vòng quay nghệ thuật đó và gặt hái được thành công đáng kể. Nhưng chỉ có một vài ban giữ vững được trào lưu mới là HELMET (89) và THE SMASHING PUMKINS (88). Các ban Punk tương đối mới như OFFSPRINGS (85), GREEN DAY (88) và RANCID (91, xuất thân từ ban nhạc OPERATION IVY được gọi là ska-punk ***) đã thúc đẩy được phong trào của Seattle ban đầu này tiếp tục đi tới và họ đều được MTV gọi ngắn gọn là ALTERNATIVE! Tính chất mãnh liệt trong âm nhạc của họ phải công nhận là thiếu xót so với các ban nhạc Punk khi xưa, cuối cùng đã gây nên sự suy sụp cho chính mình, ngoại trừ ban nhạc OFFSPRINGS. Những ban nhạc Hardcore khác như BAD RELIGION (80), SOCIAL DISTORTION (78) và NOFX (83) là những ban nhạc Punk cuối cùng chỉ vạng tiếng trong một thời gian ngắn. Lúc ấy có thể là điều đáng tiếc, nhưng ngày nay, khi nhìn lại, người ta không tin rằng những ban nhạc Punk này thực sự sống còn trên thị trường dài hơn nữa.

---------------------
Ghi chú thêm

* Đĩa "By The Way" vừa mới phát hành tháng 7.2002 là đĩa mới nhất thành công rất đáng kể.

** Tony Inommi (Black Sabbath) và Jimmy Page (Led Zeppelin) là những tay đàn tiên phong cho việc sáng tạo và đạt đến sự hoàn hảo tuyệt nhất của những cú riff ghi-ta.

*** "Ska" là điệu nhạc của người dân tại Jamaica, âm thanh được tái tạo lại của dòng nhạc Rhythm & Blue, New Orleans.

Phần 11 : RAP METAL AND SOME MORE ...




May mắn thay, từ giữa thập niên 90, Heavy Metal dường như đã trở lại rất vững vàng trên con đuờng nghệ thuật, phục hồi được một sự thực là Heavy Metal/Punk thích hợp hoàn toàn vào bánh xe lịch sử của nhạc Rock. Sự trở lại của các ban nhạc KISS, BLACK SABBATH, RIOT, QUIET RIOT, MOTLEY CRÜE, POISON và nhiều ban khác nữa đã chứng minh điều tin tưởng này tuy chỉ trong một thời gian ngắn, trước khi mọi người hiểu ra rằng, hầu như những cố gắng của một vài ban nhạc chỉ nhằm vào thương mại, một thoả hiệp phức tạp nhưng rõ ràng, hay chỉ nhất thời mà không hề có thực lực. Nói một cách khác, Âu châu đang dẫn đầu với làn sóng Heavy Metal đang bùng nổ trở lại, Hoa Kỳ chậm rãi hơn với việc chấp nhận một số thể loại mặc dù nói chung, đạt được đến tình trạng huy hoàng của thập niên 80 thì thật là xa vời.





Phải kể đến phần hồi sinh từng thể loại tại Mỹ. Các ban nhạc tại đây có thể được cho là đã gây kích động nhất trong vòng ảnh hưởng của sự truyền thanh mà lại không nhất thiết gây được cú sốc thực sự trên mặt địa bàn âm nhạc Metal. Một trong những khuynh hướng mới là Rap Metal hay Rapcore được thử nghiệm bởi những ban nhạc cựu trào như ANTHRAX (81, tiêu biểu là bài "I'm the Man"), BAD BRAINS (79) và AEROSMITH (70) hay bởi cả những ban nhạc ít người biết đến như CLAWFINGER (94), HARD CORPS (91) (những ban kể sau này không đạt được sự thành công mong muốn đáng kể). Dẫn đầu trong phong trào là nhân vật được bàn tán đến nhiều nhất: tay rapper Ice-t trong ban BODY COUNT (89) và ban nhạc nổi tiếng với chủ đề thiên về chính trị RAGE AGAINST THE MACHINE suốt những năm đầu 90. Tuy thế mà phong trào đã thực sự đạt đỉnh cao danh vọng trước khi chuyển biến sang một thể loại mới gọi là nu-metal (nu=new). Tiền phong trong loại mới này là ban nhạc KORN (92) và DEFTONES (89) (họ bị nhạo báng bởi những người nhất định cho rằng Rap không phải là Metal) mà phong cách của họ gợi cho ta nhớ lại lối chơi của FAITH NO MORE (82), nhất là bài "Jizzlobber" trong đĩa "Angel Dust". Tiếng trống, tiếng bass đập như dằn từng tiếng, tiếng ghi-ta trầm đục và giọng hát biến chất mượn từ Rap đã thực sự thành công vì sự hoà hợp khôn khéo này. LIMP BIZKIT (94) và COAL CHAMBER (97) là những ban nhạc nhanh chóng khai thác được điểm thành công này. Tuy nhiên, nhiều ban nhạc chơi thể loại thuộc nhánh phụ bên cạnh dòng nhạc chính cũng đã tấn công lên sân khấu. LINKIN' PARK (96) chẳng hạn, họ muốn so tài ngang hàng với những ban như SILVERCHAIR (92) hay NELSON (88), hoặc là PAPA ROACH (93) cạnh tranh với IRON MAIDEN!



Nước Mỹ kể như đã quay lưng với Heavy Metal suốt một thập niên, Âu châu và Nhật bản ngược lại đã chứng tỏ là một thành trì kiên cố của dòng nhạc này. Ở đây, phong trào Power Metal đã lớn mạnh, mỗi năm đều có thêm thành viên mới. Để thay vào những ban nhạc chìm lẫn mất một cách thầm lặng vì lý do tuổi tác chẳng hạn (thí dụ như HELSTAR), ta thấy cả một bảng liệt kê những ban nhạc mới ra đời tự ghép mình vào cái khung êm ái của Melodic Metal. Các ban nhạc Power Metal như RHAPSODY (Neo-Classical) hay ANGRA (Progressive) không những chỉ lo chuyên sử dụng nhạc cụ nhuần nhuyễn mà còn theo bước chân kiểu YNGWIE MALMSTEEN nổi tiếng một thời, cho dù còn có rất nhiều người không thể hiểu nổi tại sao các ban nhạc này lại chơi lối cổ điển của Niccolo Paganini hoặc Franz Schubert và còn tranh luận về tác quyền của những bản nhạc được mang vào trình tấu nữa. Thế nhưng STRATOVARIUS của Phần Lan và SONATA ARCTIVA đã giương được ngọn cờ Power Metal lên cao và mang theo trên vai suốt cuộc hành trình. Cuối cùng, cũng nên nhắc đến Power Metal tại các nước khác như Đức, Ý với sự xuất hiện của các ban nhạc như HEADHUNTER (95), GAMMA RAY (89), KAMELOT (91), LABYRINTH (91).

Đoạn kết

Điều gì sẽ xảy ra trong tương lai đối với Heavy Metal? Như mọi chân giá trị mang tính chất lịch sử khác, Metal có sức mạnh riêng mà chính lịch sử cũng không thể tiên đoán trước được. Tuy rằng vòng diễn tiến của Metal có thể định lượng trước được qua kinh nghiệm nhưng không ai dám chắc chắn điều gì. Hiện nay, sự trở lại của Glam Metal đã chứng minh đó chỉ là một cường điệu, CREED là một sự “nhồi máu” cho Alternative Metal, Power Metal đang thịnh vượng tại Âu Châu và Nhật Bản và IRON MAIDEN xuất hiện trở lại với toàn sức quyến rũ sẵn có. Hơn thế nữa, THE GATHERING vẫn phát hành album liên tục làm cho vẻ đẹp của chất nhạc Progressive luôn tươi tắn, NEUROSIS vẫn còn đang triển khai phần đất mới, TIAMAT và OPETH đã vượt qua những giới hạn cũ kỹ mà người ta thường gọi là "kinh điển", THERION kết hợp tài tình giữa Metal và Classical Music, IN FLAMES tiếp tục làm thế giới say mê trong ngọn lửa ấm áp, thể loại Stoner Rock dường như chiếm được một làn sóng chủ yếu, NEVERMORE mang thể loại Power Metal kiểu Mỹ [/b] đến một biên kỳ hạnh phúc trong sự thưởng thức mà chưa ai nghĩ tới bao giờ...

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét